|
Sáng ngày 21.8.1963,sau
khi đánh úp các chùa trong toàn quốc, tổng thống Ngô Đình
Diệm triệu tập nội các và báo tin là quân luật đã được
thiết lập trên toàn lãnh thổ vì Cộng quân đã xâm nhập
vào các châu thành thủ đô Sài Gòn. Ông cũng cho các vị bộ
trưởng hay về việc đánh chiếm các chùa và bắt giữ "bọn
tăng ni làm loạn".
Bộ
trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu đập bàn lên tiếng phản đối
hành động dã man của chính quyền. Ông bỏ buổi họp ra về,
cạo đầu để bày tỏ lập trường mình và gửi thư từ
chức bộ trưởng bộ Ngoại Giao. Rồi ông bôn ba tìm các vị
khoa trưởng và các vị giáo sư đại học đồng nghiệp cũ
của ông, vận động thành lập Phong trào Trí Thức Chống
Độc Tài. Hành động quả cảm của ông Vũ Văn Mẫu đã châm
ngòi cho sinh viên và học sinh bùng cháy trong toàn quốc. Sinh
viên Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ bãi khóa ngay trong buổi chiều
21.8.1963. Giáo sư Lê Sĩ Ngạc của Trung Tâm đứng lên tán
đồng lập trường của sinh viên và lên án chính sách tàn
bạo của chính quyền.
Chiều
ngày 22.8.1963 khoa trưởng Y Khoa Sài Gòn là bác sĩ Phạm Biểu
Tâm gửi đơn từ chức. Ông bị bắt giam và ngày hôm sau 23.8.1963,
nghe tin ông bị bắt, tất cả sinh viên Y Khoa kéo nhau đến
trường. Họ bàn tính kế hoạch chia nhau từng nhóm nhỏ đi
thuyết phục các vị khoa trưởng và giáo sư các khoa từ chức.
Đồng thời họ bàn luận kế hoạch vận động thành lập
một Ủy Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Liên Khoa. Chiều hôm ấy Ủy
ban này được thành lập, do sinh viên Tô Lai Chánh đứng đầu
làm chủ tịch. Ủy ban gồm có mười tám sinh viên. Đại diện
cho Dược Khoa có cô Lê Thị Hạnh; Y Khoa: Đường Thiệu Đồng;
Văn Khoa: Lâm Tường Vũ; Kiến Trúc: Nguyễn Hữu Đồng; Công
Chánh: Nguyễn Thanh; Sư Phạm: Nguyễn Văn Vinh; Luật Khoa: Tô
Lai Chánh.: Ủy Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Liên Khoa phát động
phong trào bãi khóa: sinh viên các trường Y Khoa, Luật Khoa,
Dược Khoa, Mỹ Thuật v.v… theo gót sinh viên Trung Tâm Kỹ
Thuật Phú Thọ lần lượt bãi khóa. Trong thời gian vài tuần
lễ, phong trào bãi khóa lan tới tất cả các cấp trung học
toàn quốc.
Sáng
ngày 24.8.1963 trên ba ngàn sinh viên và học sinh tụ tập tại
trường Luật Khoa Sài Gòn để tiếp giáo sư Vũ Văn Mẫu.
Họ vây quanh ông Mẫu, hoan hô ông vang dội. Đồng thời Ủy
Ban Chỉ Đạo tung ra một bản tuyên ngôn mà họ đã biểu
quyết ngày hôm qua, 23.8.1963, yêu cầu chính quyền:
1-
Thực sự tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng.
2-
Trả tự do cho tăng ni và tín đồ Phật giáo, sinh viên, học
sinh và giáo sư hiện giam giữ.
3-
Chấm dứt tình trạng khủng bố, bắt bớ hành hạ tín đồ
Phật giáo.
4- Giải tỏa chùa chiền, ban bố tự do ngôn luận. Bản tuyên ngôn kết thúc bằng những câu sau đây: "Sinh viên và học sinh Việt Nam nguyện đem mồ hôi và xương máu để tranh đấu cho bốn nguyện vọng khẩn thiết trên. Đồng bào hãy sát cánh cùng chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho tự do và đòi được quyền phụng sự Tổ Quốc". Dưới bản tuyên ngôn, danh từ Ủy Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Liên Khoa được đổi thành Ban Chỉ Đạo Sinh Viên Và Học Sinh. Chỉ trong vòng ba hôm sau ngày đánh úp các chùa, phong trào sinh viên và học sinh đã làm rung động thủ đô Sài Gòn. Ngày 25.8.1963 ba trăm sinh viên học sinh tổ chức biểu tình tại Công trường Diên Hồng phía trước chợ Bến Thành. Cuộc biểu tình này được tổ chức một cách tài tình bởi vì trong tình trạng giới nghiêm, khắp nơi trong thủ đô đều có các đơn vị võ trang canh gác, nhất là tại trung tâm Sài Gòn. Từng nhóm nhỏ sinh viên và học sinh đã do nhiều ngã đường đi tới: vào khoảng mươi giờ sáng đột nhiên biểu ngữ được tung ra trước chợ Bến Thành và cuộc biểu tình thành hình. Các trung đội Cảnh Sát Chiến Đấu gần đó được tin liền kéo tới đàn áp. Cảnh sát bắn cả vào đám biểu tình. Một em nữ sinh tên Quách Thị Trang bị trúng đạn tử thương(195). Một số sinh viên trốn thoát được. Một số bị thương. Khoảng 200 người bị bắt giữ. Tử thi Quách Thị Trang bị mang đi mất. Ngay chiều hôm đó chính quyền đô thành ra thông cáo rằng các lực lượng an ninh đã được lệnh nổ súng vào bất cứ đám đông nào tụ họp ngoài công lộ mà không xin phép trước. Sau cuộc biểu tình ngày 24.8.1963, sinh viên và học sinh đã trở thành đối tượng khủng bố và đàn áp của chính quyền. Các phân khoa đại học và các trường trung học lớn tại Sài Gòn đều được giây thép gai và những hàng rào cảnh sát để gác. Để đáp lại biện pháp này, sinh viên và học sinh tổ chức bãi khóa. Họ còn vận động với các giáo sư của họ gửi thư từ chức. Ngày 7.9.1963, học sinh các trường trung học công lập Gia Long, Trưng Vương và Võ Trường Toản tổ chức mít tinh bãi khóa ngay tại sân trường của họ. Họ không vào lớp mà kê bàn tại ngoài sân để đứng lên diễn thuyết, tố cáo tội ác của chế độ. Biểu ngữ được họ viết lên trên các bức tường hoặc trên những tấm bia lớn mà họ giăng lên khắp nơi. Học sinh các trường Trưng Vương và Võ Trường Toản định tổ chức biểu tình diễn hành, nhưng vừa ra khỏi cổng trường họ liền bị cảnh sát đàn áp. Cuộc xung đột tại cổng trường trung học Chu Văn An là một trường nam sinh, nổi tiếng là tranh đấu ác liệt nhất với cảnh sát(196). Ta cũng nên nhớ là ba trường đi tiên phong cho phong trào bãi khóa và tranh đấu của học sinh có tới hai trường nữ trung học: đó là Trưng Vương và Gia Long. Số học sinh các trường trung học tại Sài Gòn bị bắt giữ lên tới hai ngàn. Tại các tỉnh, học sinh các trường công lập và tư thục cũng đứng lên tranh đấu tương tự. Trong lúc đó, trên đài phát thanh Sài Gòn, chính quyền kêu gọi phụ huynh học sinh kiểm soát con cái mình đừng cho chúng "mắc mưu Cộng sản". Ông Phan Văn Tạo, tổng giám đốc Thông Tin mở cuộc họp báo đưa hai thiếu nhi 15 và 16 tuổi để hai em này tự nhận là Cộng Sản xúi dục đồng bạn đi biểu tình. Cuộc họp báo này không chinh phục được ai bởi vì trong thâm tâm các bậc phụ huynh đều biết vì lý do gì mà con cái mình tham dự vào cuộc tranh đấu. Dưới sự đàn áp của bạo quyền, đất nước mang một bộ mặt rách nát, tả tơi. Vấn đề không còn là vấn đề thành bại của cuộc tranh đấu Phật giáo. Vấn đề là vấn đề sinh mệnh và thể diện của cả một dân tộc. Một bầu không khí u uất nặng trĩu đè nặng lên cả trên một đất nước. Không những dân chúng mà đến quân đội và nhiều thành phần trong lực lượng chính quyền và cảnh sát cũng cảm thấy áp lực nặng nề và u uất đó.
Liền
ngay sau khi tấn công các chùa trong toàn quốc, chính quyền
đưa ra một tổ chức là Ủy Ban Liên Hiệp Phật Giáo Thuần
Túy. Người chủ chốt này là thiền sư Nhật Minh ngày
trước đã từng là học viên của một khóa tu nghiệp cho
các vị trú trì được Giáo Hội Tăng Già Việt Nam tổ chức
tại chùa Tuyền Lâm ở Chợ Lớn. Mục đích của Ủy Ban Liên
Hiệp Phật Giáo Thuần Túy là tạo ra một hình ảnh Phật
giáo không chống đối chính quyền và được sống an lành
trong sự che chở của chính quyền. Vì thiền sư Nhật Minh
không có một khuôn mặt có kích thước lớn nên chính quyền,
qua trung gian của một vài người phật tử thân chính quyền
như bà Võ Văn Vinh và ông Đoàn Trung Còn, đã tìm cách thuyết
phục được thiền sư Thiện Hòa đứng tên vào Ủy Ban. Hứa
hẹn rằng Ủy Ban sẽ có uy lực can thiệp để chính quyền
thả tự do cho toàn thể tăng ni và cư sĩ đang bị bắt giam.
Nóng lòng về việc "giải cứu chư tăng" thiền sư Thiện
Hòa nhận lời và sau đó chính quyền đã phóng thích một
số tăng ni và phật tử mà họ cho là vô hại và không có
tính cách chủ chốt trong cuộc tranh đấu. Việc chấp thuận
để tên mình trong Ủy Ban Liên Hiệp Phật Giáo Thuần Túy
có lẽ là vết tì duy nhất trong cuộc đời hành đạo của
thiền sư Thiện Hòa. Ta cũng nên biết là trong thời gian này
tất cả những đạo lữ và cố vấn của thiền sư Thiện
Hòa đều đang bị chính quyền giam giữ. Tuy chính quyền đã
để cho đại lão thiền sư Tịnh Khiết về chùa Ấn Quang,
nhưng tất cả các thiền sư phụ tá cho người đều còn bị
giam cầm.
Trong
khi ấy, cuộc tranh đấu của các giới vẫn được tiếp tục.
Các cuộc biểu tình của thanh niên và phụ nữ tổ chức vào
ngày cuối của tháng Chín tại Sài Gòn chứng tỏ rằng cuộc
tranh đấu vẫn còn được tiếp tục.
Vào
giữa trưa ngày 5.10.1963, thiền sư Quảng Hương châm lửa tự
thiêu trước tại chợ Bến Thành, để lại một huyết thư
cảnh giác tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ngọn
lửa Quảng Hương chứng tỏ cho thế giới thấy rằng vấn
đề Việt Nam vẫn còn đó nguyên vẹn, và đồng thời vô
hiệu hóa tất cả những hình thái giả trang của chính quyền.
Những giả trang nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, gây cảm
tưởng là cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt
Nam đã kết liễu.
Thiền
sư Quảng Hương năm ấy ba mươi bảy tuổi, tên đời là Nguyễn
Ngọc Kỳ; ông sinh năm 1926 tại Phú Yên. Ông xuất gia năm
1943, thọ đại giới năm 1949 rồi trú trì chùa Liễu Sơn.
Năm 1950 ông vào thụ huấn Phật viện Nha Trang và đến năm
1959 được cử làm giảng sư tại tỉnh hội Phật Giáo Ban
Mê Thuột. Ông hành đạo tại đây cho tới ngày ông vào châm
lửa tự thiêu tại chợ Bến Thành ở Sài Gòn.
Sáng
ngày 7.1.1963 tại Nữu Ước, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
mở một cuộc họp về tình hình Việt Nam. Cũng vào sáng hôm
đó, tại Trung Tâm Tôn Giáo (Church Center for the United Nations)
trong Carnegie Hall, gần bên phòng của đại hội, thiền sư
Nhất Hạnh họp báo nhân danh Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo để nói rõ về nhu cầu gửi một phái đoàn sang điều
tra về tình trạng nhân quyền bị vị phạm tại Việt Nam.
Sau cuộc họp báo, ông bắt đầu một cuộc nhịn ăn. Cuộc
nhịn ăn này được kéo dài tới ngày 12.10.1963.
Một
phái đoàn 7 người được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
cử do ông Abdul Rahman Pazhawak đại diện A Phú Hãn cầm đầu,
có nhiệm vụ qua Việt Nam điều tra tình trạng chính quyền
và Phật giáo. Trước khi lên đường, phái đoàn đã được
thiền sư Nhất Hạnh chỉ dẫn sơ lược về những phương
pháp để có thể thu nhập được những sự kiện chính xác
về tình trạng Việt Nam và qua mắt được những giả trang
của chính quyền Sài Gòn(197).
Phái đoàn rời Nữu Ước vào ngày 21.10.1963 và tới phi cảng
Tân Sơn Nhất vào nửa đêm rạng ngày 24.10.1963.
Tại
Sài Gòn, tổ chức bí mật của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ
Phật Giáo tìm mọi cách để liên lạc với Phái Đoàn. Ủy
Ban đã tìm cách đưa được vào cho ông trưởng đoàn một
lá thư của đại lão thiền sư Tịnh Khiết ngay hôm đầu
tiên phái đoàn tới cư trú tại khách sạn Hoàn Mỹ, dù khách
sạn đã được công an và mật vụ canh gác một cách nghiêm
mật. Ngày 27.10.1963, phái đoàn tuyên bố đi điều tra tại
Thủ Đức nhưng đã bất ngờ tới chùa Ấn Quang để tiếp
xúc với thiền sư Tịnh Khiết. Trong cuộc tiếp xúc này, phái
đoàn đã yêu cầu tất cả mọi người ra khỏi phòng họp
và chỉ để thiền sư một mình tiếp xúc với phái đoàn.
Đúng
vào mười giờ sáng hôm ấy, thiền sư Thiện Mỹ châm lửa
tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn. Thiền sư
Thiện Mỹ tên đời là Hoàng Miều sinh năm 1940 tại Bình Định.
Ông xuất gia từ hồi bé thơ, thọ giới sa di năm mười sáu
tuổi và thọ đại giới năm hai mươi tuổi. Ông từ Đà Lạt
vào Sài Gòn vào giữa tháng mười năm 1963 và cư trú tại
chùa Vạn Thọ. Ông đã định tự thiêu tại chùa Ấn Quang
trước đó nhưng sau vì cảnh sát và mật vụ biết trước
nên ông lại thôi.
Ông
châm lửa tự đốt mình vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày chủ nhật
7.10.1963 ngay tại trước nhà thờ Đức Bà nên lúc phát giác
ngọn lửa, nhiều đồng bào Công giáo đã từ trong nhà thờ
chạy ra chứng kiến. Những phật tử đi ngang cũng đã bao
quanh lại. Hoảng hốt họ không biết làm gì nên dùng nón
để quạt lửa, nhưng càng quạt thì ngọn lửa càng lớn.
Một số ký giả ngoại quốc có lẽ vì được thông báo trước
đã tìm tới để chứng kiến cảnh tượng. Phim và máy hình
của họ đã bị cảnh sát giật đi. Cảnh sát chạy tìm được
một cái mền đem phủ lên người thiền sư Thiện Mỹ. Cái
mền bốc cháy. Thấy thế cảnh sát liên giật mền và kéo
ngã vị thiền sư đang tự thiêu. Thiền sư Thiện Mỹ gượng
ngồi trở lại trong tư thế kiết già. Thoáng thấy những
người chung quanh đang dập đầu đảnh lễ, ông chắp hai tay
vái họ và cố ngồi vững chãi giữa ngọn lửa hồng. Mười
phút sau, ông ngã ra. Lúc ấy xe cứu hỏa mới ào tới xịt
nước. Lúc bốn người trong Phái Đoàn Điều Tra của Liên
Hiệp Quốc tới được thì xe cứu hỏa vẫn còn xịt nước
để xóa bỏ những dấu tích của vụ tự thiêu; trong khi đó
đồng bào đang tụ họp lại thành một cuộc biểu tình.
Thiền
sư Thiện Mỹ có để lại bốn bức thư: một cho tổng thống
Ngô Đình Diệm, một cho thiền sư Tịnh Khiết, một cho ông
U Thant và một cho Phật giáo đồ.
Ngọn
lửa tự thiêu và Thích Thiện Mỹ là ngọn lửa cuối cùng
làm sụp đổ bạo quyền.
Phái
đoàn Liên Hiệp Quốc chưa hoàn tất được việc điều tra
thì ngày 1.11.1963 một cuộc đảo chính đã xảy ra ở Sài
Gòn: Quân đội Việt Nam Công Hòa đã đứng dậy lật độ
chính quyền Ngô Đình Diệm.
Cuộc
đảo chính này được chuẩn bị từ cuối tháng Bảy nhưng
mãi đến đầu tháng Mười một mới thực hiện được bởi
các tướng lãnh trong quân đội đã gặp nhiều khó khăn.
Chính
quyền Ngô Đình Diệm biết rằng lòng dân căm phẫn cho nên
đã chuẩn bị thật kỹ lưỡng để ngăn ngừa những âm mưu
đảo chính.
Trước
hết, chính quyền ra lệnh thuyên chuyển các tướng lãnh tư
lệnh các Vùng Chiến Thuật. Tướng Tôn Thất Đính từ Vùng
Hai được đem về Vùng Ba. Tướng Huỳnh Văn Cao về Vùng Bốn.
Tướng Nguyễn Khánh về Vùng Hai. Tướng Đỗ Cao Trí về Vùng
Một. Những tướng bị nghi ngờ thì được triệu về Sài
Gòn giữ những chức vụ không có quân trong tay. Tướng Trần
Văn Đôn làm cố vấn quân sự cho Phủ Tổng Thống. Tướng
Dương Văn Minh cũng vậy. Hai lực lượng hùng hậu nhất mà
chính quyền tin cậy là Lực Lượng Đặc Biệt do trung tá
Lê Quang Tung làm tư lệnh và Lữ Đoàn Liên Minh Phòng Vệ Tổng
Thống Phủ mà chủ lực đóng tại thành Cộng Hòa, Dinh Gia
Long, nơi cư ngụ của tổng thống và cố vấn, cũng được
bố phòng rất chặt chẽ và có đủ sức chống lại chiến
xa của quân đảo chính ít nhất là trong mười hai giờ.
Những
vị tướng lãnh đầu tiên nghĩ đến chuyện đảo chính là
Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh. Nhóm tướng lãnh
này chuẩn bị cuộc đảo chính rất kỹ lưỡng, có thể nói
là chậm chạp nữa. Áp lực trong quần chúng và trong quân
đội rất lớn, những các tướng vì sợ thất bại như những
lần đảo chính trước nên đã chần chừ rất nhiều. Một
mặt họ muốn Hoa Kỳ cam kết là không xen vào phá hoại chương
trình của họ, một mặt họ lại không tin lời cam kết của
Hoa Kỳ, sợ Hoa Kỳ phản bội vào giờ chót.
Nên
biết rằng lúc này dư luận thế giới và dư luận dân chúng
Hoa Kỳ đã nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm kịch
liệt và Hoa Thịnh Đốn đã hết hy vọng làm áp lực được
cho chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi bản Thông Cáo Chung
hoặc
trục xuất hai vợ chồng ông cố vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi
chính quyền. Theo tài liệu mật Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ có ý
muốn ủng hộ một cuộc đảo chính tại Sài Gòn để diệt
trừ ông Ngô Đình Nhu. Cũng theo tài liệu này, tình báo C.I.A.
báo cáo có ít ra là mười nhóm âm mưu đảo chính. Chính những
nhóm tướng tá trẻ trong quân đội đã làm áp lực cho các
tướng lãnh cấp cao ngồi lại với nhau để nói chuyện lật
đổ chính quyền. Các nhóm tướng trẻ này thấy các tướng
lãnh cấp cao chần chờ lâu quá nên đã tự động sắp xếp
kế hoạch cấp tốc và liều lĩnh để mau đạt được mục
đích. Tướng Dương Văn Minh cầm đầu cuộc đảo chính đã
chần chừ khá lâu trong thời gian từ giữa tháng Chín đến
đầu tháng Mười, một phần vi nghi kỵ Hoa Kỳ, một phần
vị sợ cuộc chính biến sẽ làm đổ máu nhiều quá. Sự
hình thành của những nhóm đảo chính trẻ đã thúc đẩy
các tướng lãnh rất mạnh(198).
Từ
sau ngày chính quyền càn quét các chùa, đại sứ Henri Cobot
Lodge can thiệp để đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (V.O.A.) cải chính
tin đã loan báo rằng quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tham
dự vào việc càn quét chùa chiền 20.8.1963 như chính quyền
ông Diệm đã phao vu.
Tướng
Dương Văn Minh lại còn yêu cầu Hoa Kỳ tuyên bố ngưng viện
trợ chính quyền Ngô Đình Diệm để tỏ thiện chí sẽ không
phá hoại âm mưu đảo chính. Cũng vì vậy từ hồi tháng Tám.
Hoa Thịnh Đốn đã bí mật cho phép đại sứ Lodge tuyên bố
cắt viện trợ cho chính phủ Diệm bất cứ lúc nào mà ông
đại sứ thấy cần thiết. Lực Lượng Đặc Biệt mà ông
Diệm đã sử dụng để càn quét chùa chiền đêm 20.8.1963
cũng được cắt viện trợ từ cuối tháng này. Lực lượng
này được Hoa Kỳ trang bị rất tối tân. Sự cắt đứt viện
trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm được thực hiện dần
dần bắt đầu từ tháng Mười.
Như
vậy đài V.O.A. đã cải chính tin quân đội có tham dự vào
việc càn quét chùa chiền và chính quyền Hoa Kỳ đã tuyên
bố ngưng viện trợ cho chính phủ Diệm. Tuy vậy các tướng
lãnh vẫn còn nghi ngờ là tướng Paul Harkins của Hoa Kỳ và
ông Jonh Richardso, giám đốc tình báo C.I.A. sẽ tìm cách phá
hoại cuộc đảo chính. Tướng Harkins, ông Richardson và ông
đại sứ Nolting đều được coi như là những người có cảm
tình với ông Ngô Đình Diệm.
Các
tướng lãnh chủ mưu trong cuộc cách mạng vì sự nghi ngờ
ấy đã không tiết lộ cho Hoa Kỳ biết chiến lược của
họ.
Tướng
Trần Văn Đôn đã có công thuyết phục các tướng Tôn Thất
Đính tham dự vào công cuộc lật đổ chính quyền. Tướng
Đính lúc này thực sự có binh quyền trong tay: ông vừa làm
tư lệnh Vùng Ba vừa chỉ huy quân sự thủ đô. Ông được
ông Ngô Đình Nhu tin cẩn.
Theo
tài liệu của Ngũ Giác Đài, ông Ngô Đình Nhu đã nghe phong
phanh về cuộc đảo chính và có với tướng Đính vào để
nhờ giăng một cái bẫy đảo chính giả với mục đích tiêu
diệt những tướng tá muốn đảo chính. Tướng Đính đã
về thuật lại với các đồng chí của mình. Các tướng vẫn
lo ngại một số đơn vị quân đội còn trung thành với ông
Diệm nên đã đưa những đơn vị này đi hành quân ở những
vùng khá xa Sài Gòn để các đơn vị này không kịp về cứu
ứng trong ngày có cách mạng.
Họ
còn tổ chức hai chiến dịch Phi Hỏa và Hắc Dịch
tại miền Tây và cho tướng Đính vào thuyết phục tổng thống
Diệm cho bớt một số binh sĩ thuộc Lữ Đoàn Phòng Vệ Tổng
Thống Phủ và thuộc Lực Lượng Đặc Biệt tham gia(199).
Ông lại còn thuyết phục để sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho
được sát nhập vào quân đoàn Vùng Ba Chiến Thuật do ông
làm tư lệnh.
Nữa
đêm rạng ngày 31.10.1963, tướng Đính hạ lệnh cấm trại
toàn thể quân đoàn Vùng Ba Chiến Thuật. Rồi ông ủy đại
tá Nguyễn Hữu Có xuống Mỹ Tho đoạt quyền tư lệnh Sư
Đoàn 7. Sau đó đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị
tới bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản
đường về thủ đô của bất cứ đơn vị nào của quân
đoàn Vùng Bốn Chiến Thuật. Như vậy là Sư Đoàn 7, một
sư đoàn đã từng góp phần lớn trong việc đàn áp cuộc
đảo chính ngày 11.11. 1960 đã được trấn ngự.
Các
tướng lãnh đã chặn ba nẻo chính có thể tiến quân về
thủ đô: con đường từ Lục Tỉnh về thì do đại tá Nguyễn
Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm. Con đường miền Tây có thiếu
tướng Mai Hữu Xuân với quân lực Trung Tâm Huấn Luyện Quang
Trung. Con đường từ miền Bắc có đại tá Vĩnh Lộc với
chiến đoàn Vạn Kiếp. Các tướng này vừa có nhiệm vụ
cản đường những đạo quân từ xa kéo về "cứu giá"
vừa có nhiệm vụ bao vây và tiến đánh các lực lượng phòng
thủ của chính quyền.
Sáng
1.11.1963, trung tướng Trần Văn Đôn triệu tập cấp chỉ huy
của một số đơn vị quân đội đồn trú tại Sài Gòn và
các vùng phụ cận, những vị từ cấp Úy đến cấp
Tá
mà ông nghi có thể còn trung thành với chế độ. Về tới
Tổng Tham Mưu, các vị nầy bị tướng Đôn cầm chân để
cho quân lính của họ trở thành "rắn không đầu". Cũng
vào sáng hôm ấy, nhiều đơn vị trong đó có chiến đoàn
Thủy Quân Lục Chiến đã được âm thầm di chuyển về tới
tận thủ đô.
Đại
sứ Henri Cabot Lodge giờ này vẫn chưa hay biết gì về cuộc
đảo chính. Vào hồi mười giờ sáng, ông đưa đô đốc Harry
Felt vào dinh Gia Long để ông này từ biệt tổng thống Diệm
về nước.
Trưa hôm ấy, tướng Đôn cũng mời tất cả các tướng lãnh đến dùng cơm tại trụ sở Tổng Tham Mưu. Trong bữa cơm, ông Dương Văn Minh đứng dậy đề nghị tất cả tướng lãnh tham dự vào cuộc lật đổ bạo quyền. Hầu hết đều vỗ tay hưởng ứng nồng nhiệt. Đại tá Lê Quang Tung, tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt đứng dậy phản đối bỏ về. Ông bị bắt ngay sau khi ra khỏi nơi đó. Vào lúc 1 giờ 30 chiều hôm đó, tiếng súng Cách Mạng đầu tiên nổ. Thiếu tướng Mai Hữu Xuân chế ngự ngay được đơn vị của Lực Lượng Đặc Biệt đóng tại Tân Sơn Nhất. Theo xa lộ Biên Hòa, các đơn vị của chiến đoàn Vạn Kiếp và Thủy Quân Lục Chiến rầm rộ tiến về thủ đô, chiếm Đài Phát Thanh, Tổng Nha Cảnh Sát, Ty Cảnh Sát Đô Thành và Nha Viễn Thông của Bộ Nội Vụ. Thành Cộng Hòa, nơi đồn trú của Lữ Đoàn Liên Minh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, cũng tức thời bị vây hãm. Đài Phát Thanh được quân Cách Mạng chiếm vào lúc 1 giờ 45’ đài bắt đầu phát thanh tiếng nói của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Hội Đồng Cách Mạng kêu gọi tổng thống Ngô Đình Diệm từ chức. Các tướng lãnh ra điều kiện là nếu ra hàng, hai ông Diệm và Nhu sẽ được bảo đảm tính mạng và đưa ra ngoại quốc. Cố vấn Ngô Đình Nhu cho mời các tướng vào dinh thương thuyết, nhưng lời mời bị các tướng bác bỏ. Từ
trong thành Cộng Hòa, Lữ Đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ
dùng đại bác và đại liên chống trả. Họ có tới bốn
mươi xe thiết giáp. Cuộc tấn công thành Cộng Hòa khởi sự
từ 5 giờ 55 chiều, đến 7 giờ, lực lượng này đầu hàng.
Tại
dinh Gia Long, tổng thống Diệm được tin báo về cuộc đảo
chính vào lúc 12 giờ 10’. Lập tức tổng thống và ông cố
vấn xuống ngồi dưới chiếc hầm bí mật đào dưới dinh
Gia Long. Hầm này được hoàn thành ngày 28.10.1963, có phòng
ngủ, phòng tắm và phòng khách cho tổng thống và ông cố
vấn, và có địa đạo dẫn ra ngoài dinh. Tổng thống Diệm
ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với các tướng
Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính đến cứu ứng. Ông lại
cho liên lạc với tòa đại biểu chính phủ ở Huế bằng
đường vô tuyến đặc biệt của phủ Tổng Thống. Các sĩ
quan cận vệ không liên lạc được với các tướng Khiêm
và Đính, song tổng thống vẫn hy vọng vào những tướng lãnh
trung thành của mình. Mãi đến lúc 4 giờ chiều, khi đài phát
thanh Sài Gòn đọc tên các vị tướng lãnh trong Hội Đồng
Tướng Lãnh với giọng nói của từng vị ông mới biết là
không còn hy vọng được ở những người này.
Nhưng
từ dưới hầm dinh Gia Long, ông cố vấn Ngô Đình Nhu liên
lạc được với đại tá Hồ Tấn Quyền tư lệnh Hải Quân.
Ông đã ra lệnh cho đại tá Quyền đi liên lạc với một
đại tá có lực lượng đồn trú tại Thủ Đức. Một lực
lượng chống đảo chính mới được thành lập xong ngày 28.10.1963.
Đại tá Quyền còn được lệnh cho tàu ra khơi để bắn những
chiếc phi cơ đang bay liệng trên không phận Sài Gòn lúc ấy,
và sắp đặt để bí mật chở tổng thống Diệm và ông cố
vấn Nhu về Phước Tuy bằng đường biển. Ra lệnh cho hai
chiến hạm ở Sài Gòn nhổ neo và cho một đơn vị hải quân
ở khơi Vũng Tàu kéo về bến Sài Gòn, đại tá Quyền cải
trang dùng một chiếc traction lái ra khỏi bộ Tư Lệnh
Hải Quân, theo xa lộ Biên Hòa để đi về Thủ Đức.
Vào
lúc tám giờ tối, sau khi biết tin sứ mạng của đại tá
Quyền bất thành, tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu theo
đường hầm ra khỏi dinh Gia Long và trốn về nhà một người
Hoa Kiều ở Chợ Lớn tên là Mã Tuyên. Rồi từ nhà MãTuyên,
họ sang ở ẩn một ngôi nhà thờ gọi là nhà thờ Cha Tam,
nơi có một linh mục lai Pháp tên là Jean chủ trì.
Vào
lúc hai giờ sáng ngày 2.11. 1963, khi biết rằng tổng thống
Diệm và ông cố vấn Nhu đã thoát ra khỏi dinh Gia Long, đại
úy Lê Công Hoàn, một trong những sĩ quan trong đạo quân phòng
vệ Tổng Thống Phủ liền điện thoại cho bộ Tổng Tham Mưu
và yêu cầu ngưng tấn công dinh Gia Long. Vì vậy, quân Cách
Mạng đã tiếp thu dinh này mà không gây thiệt hại cho nhân
mạng. Trong lúc đầu vây dinh, một sĩ quan chỉ huy thiết giáp
là đại úy Bùi Ngương Ngãi đã bị quân trong dinh bắn chết.
Chiến xa của ông bị đạn bốc cháy giữa ngã tư Công Lý
và Gia Long.
Tại
nhà thờ cha Tam ở Chợ Lớn, biết kế hoạch trốn đi Phước
Tuy bị hỏng, tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn
Nhu liền liên lạc với bộ Tổng Tham Mưu, yêu cầu các tướng
cho người tới rước và đưa ra ngoại quốc như đã hứa.
Vào
khoảng 7 giờ sáng, một chiếc thiết vận xa M.113 tới nhà
thờ cha Tam để đón hai người. Giữa đường về bộ Tổng
Tham Mưu, tổng thống và ông cố vấn bị hạ sát.
Tài
liệu
bí mật của Ngũ Giác Đài nói rằng đến đón tổng thống
và ông cố vấn là hai sĩ quan đã thù ghét ông Diệm sẵn.
Theo Đỗ Thọ, tùy viên của tổng thống Diệm(200),
thì đó là hai vị thiếu tá tên Nhung và Nghĩa. Không biết
có phải là hai vị này đã hạ sát tổng thống Diệm và cố
vấn Nhu hay không, và nếu có thì đó là tự ý hay là đã
vâng theo lệnh vị tướng lãnh nào. Đây còn là một nghi vấn
lớn. Cả hai vị thiếu tá đều bị những người thân ông
Diệm tra khảo và hạ sát trong cuộc chỉnh lý của tướng
Nguyễn Khánh ngày 30.1.1964.
Sự
hạ sát tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu là một điều
đáng tiếc trong cách mạng 1.11.1963. Dù có ra lệnh hay không
ra lệnh, các tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Lực cũng chịu
trách nhiệm về việc không thực hành lời hứa bảo đảm
được cho tính mệnh hai người. Cái chết của họ đã kéo
theo cái chết của hai vị thiếu tá Nhung và Nghĩa. Nhưng đã
hết đâu. Oan oan tương báo, biết bao giờ cho sợi giây oan
được cắt đứt.
Tin
Cách Mạng thành công vào sáng 2.11.1963 được loan trên đài
Phát Thanh Sài Gòn làm cho quốc dân mừng rỡ kéo nhau ra đường
bày tỏ niềm vui. Tại Sài Gòn, các con đường như Lê Lợi,
Lê Thánh Tông, Gia Long, Công Lý và Pasteur người đổ ra tràn
ngập. Họ đổ xô về phía dinh Gia Long. Họ leo tường vào
dinh. Họ leo lên xe thiết giáp, ôm chầm lấy các quân nhân.
Họ nô nức reo hò. Dân chúng thủ đô biểu lộ sự vui mừng
trong suốt ngày hôm ấy và trong hai ngày kế tiếp.
Tại
chùa Xá Lợi, trú sở Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo,
ngày nào cũng có cả chục ngàn phật tử tới tụ tập. Các
vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Phái và chư tăng ni cùng phật tử
bị bắt đã được thả tự do từ chiều ngày 1.11.1963. Các
chính trị phạm từ Côn Đảo trong đó có thiếu tá Phan Trọng
Chính cũng được thả tự do về tới. Nhóm sĩ quan xướng
xuất cuộc đảo chánh không thành công ngày 11.11.1960 trong
đó có đại úy Huỳnh Minh Đường lưu đày tại Nam Vang cũng
về tới hôm 16.11.1963. Đại úy Đường đã không thi hành
lệnh của tổng thống Diệm đánh đắm chiếc tàu chở chính
trị phạm ra Côn Đảo ngày 5.10.1963.
Thiền
sư Trí Quang tỵ nạn tại tòa đại sứ Hoa Kỳ từ ngày thoát
được cuộc càn quét chùa Xá Lợi cũng đã về tại chùa
Ấn Quang sáng ngày 2.11.1963.
Hội
Đồng Quân Cách Mạng do tướng Dương Văn Minh cầm đầu tuyên
bố Cách Mạng Thành Công. Ngày 4.11.1963 một bản Hiến Ước
tạm thời được ban hành, tướng Dương Văn Minh lên làm quyền
quốc trưởng Việt Nam Công Hòa và ông Nguyễn Ngọc Thơ được
mời làm thủ tướng để tổ chức một nội các mới.
Nguồn
cảm hứng gây nên do một cuộc vận động của phật tử
Việt Nam đã vô cùng rạt rào trong sáng tác của văn nghệ
sĩ trong nước. Thơ và nhạc được sáng tác rất nhiều. Ở
đây chỉ xin ghi một bài thơ của Trụ Vũ, bài Tình Sông
Nghĩa Biển(201)
Ngày
31.12.1963 các đoàn thể Phật giáo trong đó có Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam khai mạc Đại Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất tại chùa Xá Lợi. Đại hội này đi đến quyết nghị
thống nhất Phật giáo trong một giáo hội duy nhất gọi là
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, suy tôn thiền sư
Tịnh Khiết làm tăng thống lãnh đạo một viện Tăng Thống
và bầu thiền sư Tâm Châu làm viện trưởng viện Hóa Đạo.
Một bản Hiến Chương của Giáo Hội mới được công bố
ngày 4.1.1964 đại hội bầu xong Viện Tăng Thống và
Viện
Hóa Đạo của giáo hội.
Ước
vọng thống nhất Phật giáo từng được giới Phật giáo
đồ ôm ấp từ gần 50 năm nay đã được thực hiện. Những
tập đoàn trong Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam kể từ đây
được thực sự xóa bỏ. Trụ sở của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất được đặt tại chùa Ấn Quang cùng
với văn phòng của hai viện Tăng Thống và Hóa Đạo. Phần
lớn các văn phòng của các Tổng Vụ cũng được đặt tại
chùa Ấn Quang.
(195)Sau
ngày cách mạng thành công, người ta tìm ra được ngôi mộ
của Quách Thị Trang tại nghĩa địa Gò Vấp.
(196)Cảnh
Sát Chiến Đấu đã phá cổng và leo tường, thâm nhập vào
trường Chu Văn An để đàn áp học sinh. Học sinh bắt loa
kêu gọi cảnh sát và quân đội ủng hộ cuộc đấu tranh
của họ. Sau khi cảnh sát thâm nhập vào trường, học sinh
bắt đầu kháng cự lại. Họ liệng bàn ghế từ trên lầu
xuống làm hàng chục cảnh sát viên bị thương. Họ cầm cự
được trong nhiều giờ trước khi bị chế ngự. Chỉ có độ
100 học sinh leo tường sau trốn sang được khu cư xá đại
học, còn tất cả đều bị bắt.
(197)Tại
Liên Hiệp Quốc lúc này người đại diện của chính phủ
Ngô Đình Diệm alf nhà bác học Bửu Hội từ Phi Châu được
lệnh bay sang Nữu Ước vào đầu tháng Chín để lãnh đạo
Phái Đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Tại Sài Gòn thân
mẫu của ông là ni sư Diệu Huệ, nghe tin con mình đang vận
động che dấu sự thực về cuộc đàn áp Phật giáo tại
Việt Nam, đã tìm mọi cách liên lạc với ông để khuyên
ông từ bỏ công việc đó. Tại Nữu Ước, thiền sư Nhất
Hạnh đã gặp ông Bửu Hội tới hai lần để khuyên ông từ
chức, nhưng không được ông nghe lời. Ngày 20.10.1963, thân
mẫu của ông họp báo tại Sài Gòn tuyên bố bà không còn
nhận ông Bửu Hội là con nữa.
(198)Tài
liệu bí mật Ngũ Giác Đài cũng khẳng định rằng các tướng
lãnh cao cấp trên bị thúc đẩy bởi những cuộc âm mưu đảo
chính của các tướng tá trẻ tuổi. Điện văn của đại
sứ Lodge gửi về Hoa Thịnh Đốn ngày 5.10.1963 cho biết là
sáng hôm ấy tướng Minh đã nói rằng một trong những nguyên
n do khiến ông phải hành động mau chóng là vì có nhiều cấp
chỉ huy đơn vị sư đoàn, đại đội v.v… đang âm thầm
chuẩn bị đảo chính của riêng họ, và nếu ông không hành
động mau thì "những cuộc đảo chính ấy có thể thất
bại" và có thể làm hư hết công chuyện. Tướng Minh cũng
nhấn mạnh rằng cuộc đảo chính là việc của ông và các
tướng lãnh khác trong quân đội, và ông không muốn Hoa Kỳ
xen vào. Ông chỉ cần Hoa Kỳ cam kết là không tìm cách "thọc
gậy bánh xe" mà thôi.
|
|