Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong
những văn tự cổ xưa nhất của đạo
Phật. Kinh được xem là
một phương cách trình bầy đạo Phật
giản dị và sáng sủa, ai ai cũng có
thể hiểu được, và giúp ích cho sự tu tập hàng ngày;
đồng thời cũng được xem là một tuyệt tác phẩm
của nền văn chương Ấn Độ,
trong thể thi ca gọi là kavya.
Kinh thuộc vào Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka-nikaya,
Bộ kinh ngắn), nằm trong Kinh Tạng (Sutta-pitaka),
một trong Tam Tạng kinh điển
(Tipitaka), tức là Kinh điển
pali.
Để định vị chính
xác Kinh Pháp Cú, chúng ta hãy hình dung
3 cái bồ lớn, trong đó đã được gom góp các bài kinh
ghi trên lá bối bởi các đệ tử
của đức Phật, sau nhiều lần
ôn đi tụng lại, truyền khẩu từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Bồ đầu tiên
chứa Kinh Tạng (Sutta-pitaka) gồm các bài giảng
của đức Phật, bồ thứ nhì
chứa Luật Tạng (Vinaya-pitaka) gồm các giới luật,
và bồ thứ ba chứa Luận Tạng (Abhidhamma-pitaka )
gồm các bài luận giải viết sau này. Kinh Tạng gồm
hơn 10000 bài kinh, chia ra làm 5 Bộ: Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya),
Trung
Bộ Kinh (Majjhima-nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh
(Samyutta-nikaya),
Tăng
Chi Bộ Kinh (Anguttara-nikaya), và TiểuBộ
Kinh (Khuddaka-nikaya). Tiểu Bộ Kinh
gồm 15 phần, trong đó phần 2 chính là Kinh Pháp Cú.
Bản Kinh Pháp Cú thông dụng được
viết bằng tiếng pali, gần với tiếng maghadi là ngôn ngữ
dùng bởi đức Phật Thích Ca,
vì ngài thường ngụ tại vương quốc Maghada, tức là
tỉnh Bihar hiện nay. Đã có nhiều
bản dịch sang nhiều thứ tiếng, đặc biệt sang tiếng Việt,
từ bản dịch và chú giải của Tỳ kheo Narada bởi Phạm
Kim Khánh, từ tiếng Hán bởi HT Thiện Siêu, từ tiếng
pali bởi HT Minh Châu, HT Thiện Châu, Tịnh Minh
(đăng trên Internet), và nhà thơ
Trụ
Vũ.
Tên Kinh gồm hai từ pali ghép lại với nhau:
Dhamma
(Dharma tiếng Phạn), là giáo lý
của đức Phật, và pada, là " lời nói, câu kệ
", đồng thời cũng có nghĩa
là " con đường ".
Do đó Dhammapada có thể dịch là " Lời Chánh Pháp
" (Pháp Cú tiếng Hán-Việt), hoặc là " Con đường
của đức Phật ”.
Kinh gồm 423 bài kệ, chia ra làm 26 chương hay
phẩm (vagga), được
đặt tên là " song yếu, tinh cần, hoa hương, ngu si, hiền
trí, hình phạt, già yếu, an lạc, v.v. ". Mỗi bài kệ gồm
có 4 hay 6 câu ngắn, có vần ít nhiều.
Theo truyền thống Nguyên Thủy, nơi mà
Kinh
Pháp Cú được phổ biến
rộng rãi trong quần chúng, mỗi câu kệ được
đức Phật nói lên trong một hoàn cảnh đặc biệt,
như đã được ngài Phật
Âm (Buddhaghosa) luận giải vào thế kỷ thứ V. Kinh
diễn tả đầy đủ thông điệp của đức Phật dưới mọi
khía cạnh, trong suốt 45 năm ngài
thuyết giảng bên bờ sông Hằng, cho tất cả những ai muốn
nghe, không phân biệt thế cấp hay tôn giáo.
Mỗi câu kệ, dưới một bề ngoài giản dị,
chứa
đựng một nội dung rất phong phú và sâu xa. Thay vì
những lời lẽ phức tạp, đức Phật
thường dùng những hình ảnh giản dị, những thí dụ
lấy từ đời sống hàng ngày,
dẫn tới một cảm nhận trực tiếp bằng trực giác, chẳng
hạn như " bánh xe theo chân bò,
tảng
đá gió không lay chuyển, lũ lụt cuốn làng ngủ, lửa
cháy khắp nơi, nước trượt trên lá sen, v.v. ".
Tuy nhiên, không phải
chỉ đọc một lần mà người ta có thể hiểu được tất
cả ý nghĩa của bài Kinh, phải đọc
đi đọc lại thường xuyên và quán xét kỹ lưỡng,
người ta mới có thể thấm nhuần được tất cả tinh
hoa của giáo lý đạo Phật.
Mỗi lần đọc lại, Kinh Pháp
Cú truyền cho ta một nguồn sinh
khí mới, đồng thời làm sáng tỏ hiểu biết và mang
lại một cảm tưởng thanh tịnh, an lành.
Vì bài Kinh khá dài, gồm đến 423 câu kệ, cho
nên chúng tôi thấy nên tuyển lựa trong
đó một số câu, chẳng hạn như 30 câu. 30 câu kệ đó
trên nguyên tắc là những câu tiêu biểu nhất và chứa
đựng phần cốt tủy của đạo
Phật. Trong khi trình bầy, chúng tôi sẽ không theo thứ tự
số câu, mà sẽ xếp loại theo chủ
đề.
Chúng ta sẽ khởi đầu
bằng 2 câu kệ số 1 và 2, thuộc phẩm " Song Yếu
", bởi vì như chúng ta sẽ thấy, trong Kinh có nhiều câu đi
song song, đối lại với nhau, nhưng
bổ
túc cho nhau và chở cùng một ý nghĩa. Hai câu này hết sức
quan trọng, bởi vì vừa mới khởi
đầu Kinh, khuôn khổ chung của đạo
Phật đã được ấn
định một cách rõ rệt: tất cả là do tâm, do ý thức
con người tạo nên.
1. Tâm dẫn đầu các
pháp.
Tâm là chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành động,
Với tâm niệm bất tịnh,
Khổ não liền theo sau,
Như xe theo chân bò.
(tiếng pali :
Manopubbangama dhamma
manosettha manomaya
Manasa ce padutthena
bhasati va karoti va
Tato nam dukkhamanveti
cakkam va vahato padam.)
2. Tâm dẫn đầu các
pháp.
Tâm là chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành động,
Với tâm niệm thanh tịnh,
An lạc liền theo sau,
Như bóng chẳng rời hình.
Chủ đề sau là
những lý do chính đáng để
đi theo con đường Chánh Pháp (Dhamma). Đầu
tiên là sự nhận xét rằng thế giới này đang
chìm đắm trong khổ đau (dukkha), đó
là sự thật thứ nhất trong 4 Sự Thật (Tứ
Đế, cattari-aryia-sacca).
146. Vui cười làm
sao được,
Khi lửa cháy khắp nơi?
Bóng tối mãi bủa vây,
Sao không tìm ánh sáng?
Trong khi đó, người
ta có ngờ đâu rằng được
sanh ra làm người, sống ở trên đời này và nghe lời
dậy của đức Phật, là một sự ưu đãi,
một đặc ân hiếm có:
182. Khó thay sanh làm người,
Khó thay sống giữa
đời!
Khó thay nghe Chánh Pháp,
Khó thay Phật ra đời!
194. Vui thay Phật ra
đời,
Vui thay Pháp được
giảng!
Vui thay Tăng hòa
hợp,
Đồng hòa tu,
thật vui!
Sự khác biệt giữa kẻ ngu và người trí thấy
rất rõ. Kẻ ngu là kẻ không nhận thấy mình đang
bị
lôi cuốn bởi những độc tố như tham ái, sân hận
và ngu si, và không đi theo con đường
đạo hạnh. Người trí, ngược lại ý thức
được điều
đó,
và tu tập theo Chánh Pháp.
62. " Con ta, tài sản ta ",
Kẻ ngu mãi lo xa,
Chính ta còn không có,
Tài sản, con đâu
ra?
47. Người hái hoa dục lạc,
Tâm tham nhiễm say sưa,
Tử thần sẽ kéo bừa,
Như lụt cuốn làng ngủ.
Trong khi đó :
25. Nhờ nhiệt tâm cố gắng,
Tự chế, sống nghiêm trang,
Người trí xây hòn đảo,
Nước lụt khó ngập tràn.
20. Dầu tụng ít kinh điển,
Nhưng làm theo chánh pháp,
Diệt trừ tham sân si,
Hiểu đúng, tâm giải thoát,
Không chấp cả hai đời,
An hưởng quả đạo hạnh.
Như vậy, người
ta có thể chọn lựa được giữa hai lối sống, hai
thái độ:
110. Dù sống đến trăm
năm,
Buông lung, không tự chế,
Chẳng bằng sống một ngày,
Trong đạo hạnh,
thiền định.
102. Dầu tụng trăm
câu kệ,
Nhưng không có lợi ích,
Chẳng bằng một câu Pháp
Nghe xong được tịnh
lạc.
Sự tu tập chuyên cần trên con đường
đạo hạnh sẽ dẫn tới một trạng thái an bình và
tự tại:
81. Như tảng đá vững
chắc,
Không gió nào lay chuyển,
Hiền đức không
giao động,
Trước lời khen tiếng chê.
170. Như bọt nước trôi sông,
Như ảo ảnh bềnh bồng.
Nhìn thế gian như vậy,
Tử thần không thấy ta.
Điểm quan trọng, và
cũng là điểm khác biệt so với các tôn giáo thần khải,
là con người phải ý thức được
rằng tất cả đều tùy thuộc ở mình. Mỗi người
là tác giả duy nhất của sự khổ
đau cũng như sự giải thoát của mình:
165. Tự mình làm điều ác,
Tự mình sanh nhiễm ô,
Tự mình không làm ác,
Tự mình thanh tịnh mình.
Tịnh hay không, do mình,
Không ai thanh tịnh ai.
160. Hãy tự cứu lấy mình,
Ai cứu mình được chứ?
Người khéo điều
phục mình,
Là cứu tinh khó tìm.
276. Hãy tự mình cố gắng,
Như Lai chỉ là thầy.
Người hành giả kiên trì,
Sẽ thoát vòng Ma vương.
Sự cố gắng đó chính
là một chiến thắng trên chính mình, vẻ vang hơn cả mọi
chiến thắng. Tức là tự chế phục
được mình, tự điều
khiển được thân, khẩu, ý:
103. Dầu tại bãi chiến trường,
Thắng hàng ngàn quân địch,
Không bằng tự thắng mình,
Thắng mình là tối thượng.
35. Tâm khó chế, lanh lẹ
Vun vút theo dục trần,
Lành thay điều phục tâm,
Ðiều tâm thì an lạc.
361. Lành thay chế ngự thân!
Lành thay chế ngự lời!
Lành thay chế ngự ý!
Lành thay chế tất cả!
Tỳ kheo tự chế hết,
Thoát khỏi mọi khổ
đau.
Những điều phải
chế ngự, phải điều phục
là ba cái độc tố, ba cái rễ
(mula) dẫn tới khổ đau,
tức là tham ái (lobha), sân hận (dosa) và vô minh
(avijja):
251. Lửa nào bằng lửa tham,
Kềm nào bằng kềm sân,
Lưới nào bằng lưới si,
Sông nào bằng sông ái.
Đầu tiên là tham
ái:
215. Tham ái sinh ưu sầu,
Tham ái sinh sợ hãi,
Ai dứt bỏ tham ái,
Hết sợ hãi, ưu sầu.
199. Hạnh phúc thay
được sống,
Không tham giữa khao khát.
Giữa những kẻ khao khát,
Ta sống không khát khao.
336. Ai sống ở trên đời,
Khắc phục được
tham ái,
Sầu muộn sẽ tách rời,
Như nước trượt lá sen.
Độc tố thứ
nhì là sân hận, thường bắt nguồn từ sự thiếu cảm thông,
sự ngộ nhận và có thể dẫn tới
bạo động:
252. Thấy lỗi người thì dễ,
Nhận lỗi mình rất khó.
Lỗi người vạch tỉ mỉ,
Lỗi mình che dấu luôn.
129. Gậy gộc, ai cũng sợ,
Mất mạng, ai cũng khiếp.
Lấy ta suy bụng người,
Chớ giết, chớ bảo giết!
201. Chiến thắng nuôi thù hận,
Chiến bại chuốc
khổ đau.
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau.
197. Hạnh phúc thay
được sống,
Không hận giữa hận thù.
Giữa những kẻ hận thù,
Ta sống không thù hận.
5. Hận thù diệt hận thù,
Ðời này không thể có.
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
Cuối cùng, độc tố thứ ba, cũng là nguồn
gốc của hai cái trên, là vô minh.
Đó không phải là sự thiếu hiểu biết, mà là sự
thiếu sáng suốt và trí huệ, phải được
loại trừ bởi chánh định (samma-samadhi) và chánh
niệm (samma-sati), là hai nẻo
đường trong con Đường
Chánh Tám Nẻo (Bát Chánh Đạo,
atthangika-magga). Do đó, có
một mối liên hệ mật thiết giữa định (samadhi)và
huệ (pañña):
372. Không có huệ,
không định,
Không có định,
không huệ.
Người có định,
có huệ,
Đạt Niết bàn
viên tịnh.
Để kết thúc, đây
là một trong những câu kệ nổi tiếng nhất, tóm tắt
một cách vô cùng đơn giản
lời dậy của đức Phật, đúng hơn của chư
Phật, các đấng Giác ngộ hoàn toàn:
183. Tránh làm các điều ác,
Thành tựu mọi việc lành,
Giữ tâm ý thanh tịnh,
Ấy lời chư Phật dạy.
Câu này rất quen thuộc bằng tiếng Hán-Việt:
Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý,
Thị chư Phật giáo.
Các Phật tử Đại Thừa
thường hay đọc câu kệ này
và gán cho Ô Sào, một vị thiền
sư đời nhà Đường,
là tác giả. Nhà sư già này sống trong một cái chòi dựng
trên một chạc cây cao. Một hôm, thi hào Bạch Cư Dị đến
viếng thăm và hỏi ngài: " Yếu
chỉ của đạo Phật là gì? ". Ô Sào
đọc lên bài kệ. " Vậy thì quá dễ, một
đứa bé lên 8 cũng có thể nói như vậy được!
" " Nhưng mà, nhà sư trả lời, điều
đó một lão già 80 cũng chưa thực hiện nổi… ".
Nói tóm lại, lời dậy
ban đầu của đức Phật qua những câu kệ này vô cùng
sáng sủa và giản dị. Không có một chút luận tưởng siêu
hình nào, không có lý luận triết
học, cũng không có đức tin tôn giáo. Tất cả khởi đầu
bằng một nhận định tâm lý căn
bản: sự khổ đau của con người
là kết quả của những ảo tưởng gây nên bởi tham
ái, sân hận và vô minh, và do đó
có thể dẹp tan được bằng cách điều phục tâm và
các cảm xúc tiêu cực của mình.
Thông điệp này
hoàn toàn phù hợp với câu kệ cuối cùng của đức Phật
Thích Ca trước khi ngài viên tịch, ghi trong Kinh
Đại Bát Niết Bàn (Maha-parinibbana- sutta) pali:
" Hỡi các tỳ kheo!
Hãy chánh niệm, tỉnh giác,
Trì giới, định tâm, nhiếp ý.
Ai tinh tấn trong Pháp và Luật này,
Sẽ lìa vòng sanh tử, chấm dứt khổ đau.
"
Olivet, 18/10/2014
Trịnh Nguyên Phước, Nguyên
Đạo
Để tưởng
nhớ đến vị Thầy quá cố của chúng tôi, HT
Thích Thiện Châu,
người đã
luôn luôn nhắc nhở chúng tôi nên đọc
đi đọc lại những câu kệ tuyệt diệu này.
|